nhà nghiên cứu sinh học phân tử

Tôi chọn lĩnh vực sinh học cũng theo lẽ cũng khá tự nhiên và một phần do duyên số nữa. Mẹ tôi là bác sỹ nên từ nhỏ tôi cũng hay quan tâm tới sinh học và khi thi đại học, tôi quyết định thi khối B. Tôi thi Y nhưng không đỗ, nên chuyển sang học Sinh học tại Đại Học Sư phạm Hà Nội. Từ đó tôi gắn bó với ngành sinh học.

Học đại học vào thời điểm của chúng tôi, việc du học là rất khó, không có nhiều sự lựa chọn nên tôi luôn cố gắng chớp lấy mọi cơ hội để có thể đi du học. Năm thứ ba đại học, tôi có cơ hội được sang bên Nhật theo một chương trình trao đổi sinh viên. Trước khi nhập trường ở bên đó, tôi có cảm giác không thích thú lắm vì trường toàn con gái, không có con trai [ cười]. Tuy nhiên khi nhập học, cảm nhận đầu tiên của tôi lại hoàn toàn khác. Thực sự tôi cảm thấy vui vẻ và thoải mái. Trong thời gian một năm làm sinh viên trao đổi đó, tôi cũng học được chút tiếng Nhật. Cảm thấy yêu nước Nhật hơn và cũng có mong muốn được khám phá chân trời mới, nên sau khi về nước, tôi quyết định mình sẽ đi du học Nhật. Tôi tốt nghiệp đại học ở Việt Nam năm 1996, cùng năm tôi sang Nhật tiếp tục việc học của mình. Tôi đăng kí học ngành sinh học phân tử.

Làm luận án tốt nghiệp tiến sỹ về sinh học phân tử, nhưng công việc đầu tiên của tôi lại về tin sinh học. Thực ra trong quá trình làm luận án, tôi cũng phải sử dụng tới tinh sinh học để phân tích dữ liệu. Do đó, tôi quyết định  mở rộng chuyên môn của mình ngay sau khi tốt nghiệp với vai trò của một post doc, trợ lý cho các tiến sỹ khoa học.

Làm thí nghiệm cũng có rất nhiều kỉ niệm vui. Trong thời gian học bên đó, tôi học tại một trường không lớn lắm, nên phòng thì nghiệm rất nhỏ, lại nghiên cứu vấn đề rất cơ bản nên rất thiếu thốn phương tiện vật chất. Lúc đó tôi phải làm thí nghiệm về động vật nguyên sinh, cụ thể là trùng đế giầy, và cần dùng máy li tâm ở 4oC. Với các máy hiện đại bây giờ thì chỉ cần đặt chế độ là xong, nhưng chúng tôi không có máy như vậy vào thời điếm đấy. Tuy nhiên lại có phòng có thể hạ nhiệt độ xuống 4oC được, đó là phòng lưu trữ hóa chất. Tôi và cô bạn làm cùng quyết định bê máy li tâm xuống phòng lưu trữ hóa chất để  thực hiện thí nghiệm. Chúng tôi làm trong đó mấy tiếng đồng hồ liền. Lúc đó là giữa mùa hè, tôi và cô bạn chỉ mặc quần áo bình thường công thêm áo blu nữa vẫn nên lúc ra ngòai là thấy vừa đói vừa rét run cầp cập dưới ánh nắng chang chang. Tôi vẫn đùa với mọi người là vừa ở trong tủ lạnh ra. Khi nhắc lại kỉ niệm đấy tôi thường nói “Làm việc ở Nhật vừa đói, vừa rét” [ cười].  Nhưng chỉ một năm sau thôi, công nghệ đã thay đổi rất nhiều, chúng tôi không phải làm trong phòng kho nữa. [laugh]

Học xong, tôi làm việc ở Nhật thêm năm năm rồi mới trở về Việt Nam.  Quá trình xin việc ở Việt Nam của tôi cũng rất dễ dàng. Tôi nộp đơn vào viện công nghệ sinh học, nơi tôi đã từng thực tập nên cũng đã có cơ hội làm quen với các cô chú ở đó. Tôi cũng có lý lịch khoa học tốt khi học và làm việc bên Nhật, do đó, khi nộp đơn vào viện, tôi dễ dàng được chấp nhận. Tuy nhiên tôi hơi cay cú một chút vì với bằng cấp, kinh nghiệm như vậy tôi vẫn phải thử việc hai tháng và sau đó là tập sự một năm như một sinh viên mới ra trường. Nhưng sau một thời gian, tôi nhân ra đó cũng chỉ là hình thức.  Sau hai năm làm việc tại Việt nam, hiện tôi đã được quản lí một dự án liên kết với Thái Lan.

Đề tài chúng tôi đang nghiên cứu đó là về việc giải mã gen con tôm sú. Vì chỉ ở mức độ khoa học cơ bản nên mục đích nghiên cứu của chúng tôi chỉ là giải mã gen của con tôm sú Việt Nam, chứ chúng tôi chưa thể làm con tôm sú to ngay cho bà con được [ cười].

Công việc bình thường một ngày của tôi chủ yếu xoay quanh ba công việc chính: nghiên cứu, hành chính và hướng dẫn sinh viên.  Như thường lệ, vào mỗi sáng sớm tôi sẽ liệt kê tất cả các công việc cần làm theo ngày rồi sắp xếp theo thứ tự ưu tiên. Công việc hàng đầu bao giờ cũng là công việc nghiên cứu. Vì chúng tôi có sử dụng máy trong quá trình phân tích dữ liệu, nên chúng tôi thường có thời gian rảnh trong lúc chờ đợi máy cho kết quả. Trong thời gian đợi đó, chúng tôi thường ưu tiên cho các việc liên quan tới các thủ tục hành chính liên quan hoặc viết báo cáo. Kế tới chúng tôi hướng dẫn và trao đổi với sinh viên những vấn đề họ còn thắc mắc. Trong quá trình làm việc, tôi gặp nhiều vấn đề khó khăn, không được thuận lơi như ở bên Nhật.

Công việc nghiên cứu ở Việt nam đòi hỏi nhà nghiên cứu phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác. Ví dụ, sắp tới viện tôi tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm hợp tác với Anh và Nhật, chính chúng tôi phải đi đặt phòng ở, lo về địa điểm họp, và việc hành chính thủ tục liên quan. Hoặc khi chúng tôi nhận đề tài nghiên cứu, chính chúng tôi phải dự toán. Chúng tôi thường xuyên phải làm những việc không thuộc chuyên môn của mình, điều đó ít nhiều ảnh hưởng tới công  việc nghiên cứu. Ở bên Nhật, các trường thường có bộ phận riêng xử lý việc tiền nong và các nhà nghiên cứu thường có thư ký riêng. Tuy công việc ở Việt nam dường như giao cho chúng tôi nhiều quyền tự chủ hơn, nhưng lại gián tiếp gây ra những cảm giác mệt mỏi không đáng có.

Hơn thế nữa, nhiều khi làm nghiên cứu ở Việt Nam còn bị giảm lửa, giảm đam mê. Công bằng mà nói, công việc chúng tôi đang làm đây không quá nặng nhọc. Mọi người bắt đầu tứ 8 giờ sáng và cố gắng kết thúc vào khoảng 5 hoặc 6 giờ chiều để có thể về sắp xếp công việc gia đình.  Tuy nhiên, điều kiện chưa thể tốt bằng ở Nhật. Ở Nhật, chúng tôi làm việc từ 9 giờ sáng và có thể kéo dài tới 12 giờ đêm.  Công việc liên tục, không thiếu các phương tiện hỗ trợ, nên hiệu suất cao hơn và tạo cho tôi sự đam mê hơn. Làm thí nghiệm ở Việt Nam lại khác, nhiều lúc, tôi đang rất hứng thú làm việc trong thí nghiệm nào đó nhưng lại phát hiện ra thiếu hóa chất. Tìm mãi trong kho không thấy, tôi phải đặt hàng từ nước ngòai về. Thời gian chờ đợi hóa chất có thể kéo dài tới một tháng, nên sự nhiệt tình bị giảm đi rất nhiều. Thêm vào đó, tôi và nhiều bạn đồng nghiệp đi du học ở nước ngòai về, nhiều khi cũng muốn áp dụng hết kiến thức của mình nhưng cũng rất khó vì  các phương tiện cần thiết chưa sẵn có, do đó cũng phần nào áp lực hơn.

Ở cơ quan tôi, vì là môi trường học tập, chúng tôi chỉ chủ yếu cạnh tranh nhau về kiến thức, các yếu tố kinh tế không ảnh hưởng nhiều lắm tới quan hệ anh em đồng nghiệp. Nghiên cứu luôn là ưu tiên hàng đầu, ít khi chúng tôi nghĩ tới việc đấu đá về quyền lực.

Trong những thuận lợi và khó khăn, tôi thấy điều khó khăn nhất trong công việc nghiên cứu khoa học đối với tôi cũng như đối với phụ nữ Việt Nam nói chung đó là làm thế nào để cân bằng công việc và gia đình. Tôi từ Nhật trở về Việt Nam cũng vì lí do này. Thực sự ở Nhật tôi có cơ hội làm việc tiếp, nhưng nếu tôi ở lại thì tôi thấy mình nghĩ cho bản thân nhiều quá. Hơn nữa, bây giờ tôi đã có gia đình nên thời gian dành cho công việc cũng eo hẹp hơn. Thử hỏi bây giờ trong một gia đình, nếu 8 giờ tối rồi mà người vợ chưa về lo cơm nước thì người chồng nào chịu được [ cười].

Cũng vì nhiều khó khăn như vậy, nên tôi tâm nghiệm rằng để sống được với nghề mình phải có sự đam mê và tôn trọng sự thực. Đối với chúng tôi, những điều đó còn là danh dự, quan trọng hơn tiền bạc rất nhiều.

Contributors:  Eliza Tran, Jennifer Phung, Nguyễn Minh Dương, Lỗ Thị Lan Anh

Molecular biologist

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s